Những “Ngày đen tối” nhất trong lịch sử Phố Wall

1
247

[CPP] Kinh tế học, giống như xã hội học, là một bộ môn thú vị nghiên cứu về những thay đổi và biến động phức tạp, mà trong đó rất nhiều sự kiện, hiện tượng lặp đi lặp lại suốt chiều dài lịch sử. Những ngày đen tối trong lịch sử phố Wall liệt kê dưới đây thực sự nhắc nhở chúng ta về tính bất ổn của nó – và thậm chí cả sự cả tin của chính chúng ta nữa.

Những ngày đen tối nhất trong lịch sử Wall Street

Ngày 14/3/1907

Các hoạt động đầu cơ bất động sản và thôn tính công ty bất thành sau trận động đất ở San Francisco năm 1906 góp phần vào vụ sụp đổ năm 1907, trong đó chỉ số Dow bị mất hơn 8%, đóng cửa ở mức 76,23 điểm. Vì nhiều người mượn tiền để đầu cơ và phần lớn nhà cửa trong vùng bị động đất tàn phá được các công ty ở Anh bảo hiểm, nên lãi suất tăng đột ngột. Các mức lãi suất đó, cùng với giá cả bất động sản cao một cách bất thường, làm đầu tư vào hạ tầng cơ sở chậm lại. Tình trạng bất ổn cố hữu là mầm mống của cuộc khủng hoảng năm 1907.

Ngày 24/10/1929

Một sự kiện sẽ để lại vết nhơ mãi mãi, vụ sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929 giáng một đòn chí mạng vào nền kinh tế Hoa Kỳ. Nhất là, nó báo hiệu bắt đầu cuộc Đại khủng hoảng Kinh tế, cuộc khủng hoảng kéo dài suốt đến tận Đệ nhị thế chiến. Tai họa bắt đầu diễn ra vào ngày Thứ Năm Đen Tối, thời điểm giá cổ phiếu trên thị trường New York lao xuống nhanh. Trong lúc hoảng loạn bao trùm, 5 tỷ đô la bị biến mất khi gần 13 triệu cổ phần được giao dịch, nhiều gấp ba lần khối lượng giao dịch thông thường. Một cuộc gặp gỡ chớp nhoáng với công chúng vào cuối ngày của ông Richard Whitney, Chủ tịch Sở giao dịch chứng khoán New York, làm tăng niềm tin lên đôi chút, nhưng rốt cuộc không ngăn chặn được một vụ sụp đổ đang lan rộng.

Ngày 28/10/1929

Sau một ngày Thứ Sáu Tốt Lành, các nhà đầu tư lại chịu một tổn thất mau lẹ khác vào ngày thứ hai. Họ cố gắng tháo chạy khỏi thị trường khi có thể, nhưng với nhiều người việc này đã quá muộn. Vào cuối ngày, khối lượng giao dịch gần đạt đến 9,25 triệu đơn vị và chỉ số Dow giảm 13% (38 điểm), một con số tổn thất kỷ lục. Niềm tin mới hình thành cuối tuần trước đó đã mất, và đây là ngày khó quên nhất trong năm 1929.

Ngày 29/10/1929

Ngày Thứ Ba Đen Tối là thời điểm cuộc khủng hoảng lên đến đỉnh điểm. Chỉ trong chừng vài giờ, số lợi nhuận kiếm được của năm trước bị tước đi và niềm tin của người tiêu dùng sụp đổ. Ai cũng bán mà chẳng có ai mua, làm cho hệ thống cung cấp báo cáo trễ lại gần hai tiếng đồng hồ. Khối lượng 16 triệu cổ phần đáng kinh ngạc được giao dịch ngày hôm đó, một kỷ lục tồn tại suốt 40 năm, và chỉ số Dow đóng cửa với thiệt hại 12% (30 điểm). Đám người trước đây mượn tiền để tham gia thị trường có khuynh hướng giá lên bị buộc phải bán tài sản cá nhân của mình để cố gắng hoàn trả nợ. Ngân hàng và các công ty đóng cửa, và nhiều công dân Mỹ bị đẩy vào cảnh nghèo túng mà không có việc làm hay bất kỳ hỗ trợ tài chính nào.

Ngày 08/7/1932

Gần như 3 năm sau những ngày đen tối của tháng mười năm 1929, tình trạng sụt giảm liên tục và kéo dài của chỉ số Dow chạm xuống đến điểm thấp nhất, đóng cửa ở mức 42,22, mất 89% so với đỉnh của mình. Mặc dù không phải là thảm hoạ trong một ngày giống như những sự kiện nêu trên, cái ngày này vẫn đóng vai trò là một điểm mốc trong lịch sử. Nó không chỉ làm mất hết chút niềm tin còn rơi rớt lại của người tiêu dùng, mà còn giúp Franklin Roosevelt giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống sắp diễn ra, cho phép ông ta quyền thực hiện sáng kiến chính sách Kinh Tế Mới của mình, chính sách mà nhiều người tin rằng cuối cùng sẽ chấm dứt thời kỳ Suy Thoái.

Ngày 19/10/1987

Người ta không ký kết được một thoả thuận các bên cùng nhất trí về những sự kiện đã dẫn đến ngày Thứ Hai Đen Tối, khi chỉ số Dow giảm hết biên độ lớn nhất của mình trong lịch sử đương thời, hơn 22% (508 điểm). Vụ phá sản hàng loạt trên toàn thế giới bao gồm mất 45,5% tại Hồng Kông, 41,8% tại Úc, 31% tại Tây Ban Nha và 26,5% tại Anh, một chuỗi sự kiện lan về hướng tây. Ngoài tình trạng rối loạn trên các thị trường quốc tế, các nhà kinh tế học quy cho đồng đô la sút kém, tâm lý thị trường và giao dịch theo chương trình, trong nhóm này yếu tố đứng sau được Hạ nghị sĩ Edward J. Markey dự báo trước cuộc sụp đổ. May thay, sau đó thị trường nhanh chóng ổn định, vào cuối tháng đã tăng 15% hơn so với con số đóng cửa ngày Thứ Hai Đen Tối.

Ngày 17/9/2001

Các vụ tấn công ngày 11 tháng Chín ảnh hưởng đến những mặt khác nhau trong cuộc sống chúng ta – an ninh, quốc phòng, tự do và, tất nhiên kinh tế nữa. Khi thị trường mở cửa trở lại sau thời gian đóng cửa 4 ngày vì các vụ tấn công, các cổ phiếu lao xuống mức thấp nhất trong ba năm, giảm hơn 7%. Boeing và United Technologies, một nhà cung cấp thiết bị hàng không, chịu tổn thất lớn nhất. Tại thời điểm bấy giờ, đó là những mức mất điểm trong một tuần và trong một ngày lớn nhất trong lịch sử chỉ số Dow, chỉ số này trước đấy không bị cuộc suy thoái kinh tế đang diễn ra tác động đến.

Ngày 27/02/2007

Bị các sự kiện của năm sau làm lu mờ đi, vụ sụp đổ năm 2007 nhanh chóng được những người không chịu ảnh hưởng trực tiếp lãng quên. Mặc dù nó vẫn còn là một trong những trường hợp sụt giảm lớn nhất theo từng điểm trong lịch sử chỉ số Dow. Các nhà đầu tư ồ ạt bán giữa những mối lo ngại về tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ và thế giới, các cổ phiếu Trung Quốc đang xuống nhanh và âm mưu ám sát rõ ràng của Taliban tại Afghanistan đối với Phó Tổng thống Cheney. Những lo sợ về một đợt bán tống bán tháo quy mô lớn đã xuất hiện trong những tháng sau khi chỉ số Dow đạt những mức cao kỷ lục suốt giai đoạn phục hồi kéo dài 8 tháng.

Ngày 15/9/2008

Với hơn 600 tỷ đô la tài sản, cái chết của Lehman Brothers, ngân hàng đầu tư lớn thứ tư ở Mỹ, tác động lớn đối với sức khoẻ kinh tế của nước này. Vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ, cùng với việc bán Merrill Lynch cho Ngân hàng Mỹ nhằm tránh khủng hoảng tài chính, dẫn đến việc chỉ số Dow mất 504 điểm, và giúp để lại tình trạng hoảng loạn trong những tuần tiếp theo. AIG đang vật lộn với rất nhiều khó khăn, trước đây là công ty có cổ phiếu phát hành ra công chúng lớn thứ 18 trên thế giới, được cứu rỗi nhờ trợ giúp từ chính phủ, khoản trợ cấp mà, trong số những khoản trợ cấp khác, ngay lập tức mang lại cho họ một thoả thuận cấp tín dụng dành cho doanh nghiệp trị giá 85 tỷ đô la.

Ngày 29/9/2008

Ngày này là một thảm hoạ chỉ rõ đặc điểm một thế hệ trên Phố Wall. Sau khi Hạ viện không thông qua kế hoạch cứu trợ tài chính trị giá 700 tỷ đô la của tổng thống Bush, hơn 1,2 nghìn tỷ đô la biến mất khỏi thị trường chứng khoán Hoa Kỳ, số lượng giảm sút lớn nhất trong lịch sử Dow Jones. Trường hợp mất điểm lớn nhất, 400 điểm, xảy ra chỉ trong 10 phút, không lâu sau khi mọi người chứng kiến dự luật bị bác bỏ.

Update thêm từ sách Những gương mặt nổi trội ở Wall Street: Wall Street và những ngày đen tối chấn động thế giới

Phố Wall (Wall Street) là một con đường nhỏ hẹp ở Khu Tài Chính (Financial District) thuộc vùng hạ Manhattan (Lower Manhattan) thành phố New York. Đây được coi là trung tâm tài chính lớn nhất Hoa Kỳ và thế giới với tầm ảnh hưởng vươn đến phạm vi toàn cầu. Người ta hay nói đùa “khi Wall Street nhảy mũi, cả thế giới rung chuyển” và thực tế đúng là như vậy, trong lịch sử vài thế kỷ của mình Phố Wall đã nhiều lần chứng kiến những thăng trầm và những đợt khủng hoảng tài chính rúng động thế giới.

Năm 1987: “NGÀY THỨ HAI ĐEN TỐI” VÀ THỊ TRƯỜNG GIÁ LÊN KÉO DÀI

Vào thứ hai ngày 19 tháng 10 năm 1987, giá trị cổ phiếu tụt xuống trên các thị trường toàn cầu. Chỉ số công nghiệp Dow Jone giảm 22% vào lúc đóng cửa ở mức 1.738,42 điểm, đây là sự suy giảm trong một ngày lớn nhất kể từ năm 1914, thậm chí còn vượt cả sự sụt giảm trong ngày TTCK sụp đổ tháng 10 năm 1929.

Ngày thứ hai đen tối
Vào thứ hai ngày 19 tháng 10 năm 1987, giá trị cổ phiếu tụt xuống trên các thị trường toàn cầu.

Ủy ban Brady (Một ủy ban thuộc phủ tổng thống được lập ra để điều tra sự sụp đổ này), SEC và các cơ quan khác đổ lỗi cho nhiều nhân tố khác nhau gây ra sự sụp đổ năm 1987 – bao gồm hướng tiêu cực trong tâm lý nhà đầu tư, sự lo lắng cúa nhà đầu tư về thâm hụt ngân sách chính phủ liên bang và thâm hụt cán cân thương mại, sự thất bại của các chuyên gia trên TTCK New York trong việc thực thi nhiệm vụ của họ là người mua cứu cánh cuối cùng và “chương trình thương mại điện tử”, trong đó các máy tính được lập trình sẵn để đưa ra các hoạt động mua hoặc bán khối lượng lớn cổ phiếu khi xuất hiện sự lên xuống đột ngột nào đó trên thị trường.

Sau đó, TTCK đã tiến hành các biện pháp bảo vệ. Họ tuyên bố sẽ hạn chế chương trình thương mại điện tử bất cứ khi nào chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones (DJIA) dao động lên xuống 50 điểm trong một ngày, và nó tạo ra một cơ chế “ngắt mạch” để dừng lại tạm thời tất cả các giao dịch thương mại mỗi khi chỉ số DJIA giảm xuống 250 điểm.

Những cơ chế khẩn cấp đó sau này đã được điều chỉnh cơ bản để phản ánh sự tăng mạnh về mức độ chỉ số DJIA.

DJIA index
TTCK một cơ chế “ngắt mạch” để dừng lại tạm thời tất cả các giao dịch thương mại mỗi khi chỉ số DJIA giảm xuống 250 điểm.

Vào cuối năm 1998, có một thay đổi đã yêu cầu hạn chế chương trình thương mại điện tử khi chỉ số DJIA dao động lên xuống 2% trong một ngày so với mức trung bình vào lúc kết thúc phiên giao dịch gần nhất. Cuối năm 1999, thể thức này quy định rằng chương trình thương mại điện tử sẽ bị dừng lại khi thị trường thay đổi khoảng 210 điểm. Những quy định mới này cũng đặt ra một ngưỡng cao hơn để dừng tất cả các giao dịch. Trong quý từ năm 1999, việc ngừng tất cả các giao dịch có thể xảy ra nếu như có sự rớt xuống ít nhất là 1.050 điểm của chỉ số DJIA.

Những cải cách đó có thể đã giúp khôi phục lại lòng tin, nhưng chính sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế mới là điều quan trọng hơn. Không giống như hoạt động của mình vào năm 1929, Cục Dự trữ Liên bang đã tuyên bố rõ ràng rằng nó sẽ giảm nhẹ các điều kiện tín dụng để bảo đảm cho nhà đầu tư có thể đáp ứng các thông báo bổ sung tiền bảo chứng của mình và tiếp tục hoạt động. Một phần nhờ vào điều này mà sự suy sụp năm 1987 đã nhanh chóng bị xóa bỏ khi thị trường phát triển lên tầm cao mới.

Đầu những năm 1990, chỉ số Dow Jones lên cao nhất là 3000 điểm, đến năm 1999 nó đạt đến đỉnh với 11.000 điểm. Hơn thế nữa, khối lượng giao dịch tăng lên hết sức mạnh mẽ. Trong khi khối lượng giao dịch với 5 triệu cổ phiếu đã được xem là đỉnh điểm trên TTCK New York vào những năm 1960, thì có một số ngày trong năm 1997 và 1998 đã có hơn 1 tỷ cổ phiếu được trao đổi. Trên thị trường Nasdaq năm 1998, những ngày có số cổ phiếu được giao dịch nhiều như vậy đã trở thành thường xuyên.

Đầu những năm 1990, chỉ số Dow Jones lên cao nhất là 3000 điểm, đến năm 1999 nó đạt đến đỉnh với 11.000 điểm.

Hoạt động thị trường gia tăng này phần lớn được tạo ra bởi các nhà giao dịch ngày, những người thường mua và bán nhiều lần cùng một loại cổ phiếu trong một ngày với hy vọng thu được lợi nhuận nhanh chóng từ những dao động ngắn hạn. Các nhà giao dịch này nằm trong nhóm ngày càng đông những người sử dụng Internet để tiến hành mua bán. Vào đầu năm 1999, 13% tổng số các giao dịch chứng khoán do cá nhân tiến hành và 25% số giao dịch cá nhân về các loại chứng khoán được thực hiện qua Internet.

Một điều đáng lưu ý là: Khối lượng giao dịch càng lớn càng dễ dẫn đến biến động. Những dao động trên 100 điểm trong một ngày xuất hiện ngày càng thường xuyên, và cơ chế ngắt mạch đã được thực hiện vào ngày 27 tháng 10 năm 1997 khi chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones tụt 554,26 điểm. Một sự sụt giảm lớn nữa với 512,61 điểm xảy ra vào ngày 31 tháng 8 năm 1998. Nhưng lúc đó, thị trường đã tăng cao đến mức sự suy giảm tính ra chỉ bằng khoảng &% tổng giá trị cổ phiếu, và các nhà đầu tư vẫn ở lại trên thị trường được hồi phục nhanh chóng sau đó.

Năm 2001: MỘT TUẦN ẢM ĐẠM TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN WALL STREET

Ngày 20.09.2001, cổ phiếu tiếp tục rớt giá, kết thúc một tuần lễ sụt giảm chưa từng có trong lịch sử của phố Wall. Rõ ràng vụ tấn công của quân khủng bố 11.09 đã ảnh hưởng không nhỏ đến toàn bộ nền kinh tế Mỹ.

Một loạt các chỉ số chính giảm xuống mức thấp nhất kể từ mùa thu năm 1998. Các chuyên gia kinh tế quan ngại về cầu hàng hóa giảm sút. Thêm nữa, nhiều nhà đầu tư chỉ nhìn vào những khoản lợi ngắn hạn và vẫn đang tiếp tục bán cổ phiếu của mình. Điều này càng làm cho TTCK diễn biến theo chiều hướng xấu.

Chỉ số công nghiệp Dow Jones đã trải qua 5 ngày thê thảm, giảm 14,2%, mất gần 1.370 điểm – mức giảm sút mạnh nhất từ trước đến thời điểm này. Ngày 20.09.2001, chỉ số Dow Jones giảm 140.40 điểm tương đương với 1,7% xuống còn 8.235,81 điểm – mức thấp nhất kể từ năm 1933. Chỉ số Standard & Poor’s 500 giảm 18,74 điểm (1,9%) còn 965,80 điểm vào thứ sáu. Với 11,6% giảm trong vòng một tuần, đây là tuần tồi tệ nhất của Standard & Poor’s 500 kể từ 23.10.1987.

Chỉ số Nasdaq giảm 47,74 điểm xuống còn 1.423,19 điểm. Giảm 16% trong vòng một tuần – mức thấp nhất kể tháng tư năm 2000. Trong khi đó, Wilshire 5000 giảm 11,9% gây thiệt hại 1.400 tỷ USD cho toàn bộ thị trường giao dịch 20, sáng lập viên kiêm Chủ tịch tập đoàn Vanguard nói: “Trong cả cuộc đời kinh do chưa từng chứng kiến cảnh một thị trường vận hành ảm đạm như thế.”

Sau sự kiện này, Chính phủ Mỹ thông qua một khoản cứu trợ 5 tỷ USD, và một khoản 10 tỷ USD cho vay, giá trị cổ phiếu ngành hàng không có xu hướng bình ổn trở lại. Tuy nhiên, cổ phiếu của Northwest Airlines vẫn giảm 0,56 USD xuống còn 10,45 USD. Tiếp đến là việc hãng này có thông báo chính thức sẽ cắt giảm 10.000 nhân viên và giảm 20% chuyến bay. Ngành công nghiệp hàng không, đứng trước thực trạng giảm sút hành khách, đã thông báo cắt giảm 75.000 nhân viên.

Các khoản bồi thường khổng lồ đang là một thách thức lớn đối với các hãng bảo hiểm. Khoảng 55 công ty bảo hiểm đã lên tiếng về mức giảm sút lợi nhuận trong tương lai. Tập đoàn bảo hiểm Chubb dự tính sẽ phải chi trả 600 triệu USD cho việc bồi thường thiệt hại mà không tặc gây nên tại toà tháp đôi WTC.

Tập đoàn bảo hiểm Chubb dự tính sẽ phải chi trả 600 triệu USD cho việc bồi thường thiệt hại mà không tặc gây nên tại toà tháp đôi WTC.

Mặc cho những nỗ lực của Chính phủ Mỹ nhằm bình ổn nền kinh tế thông qua việc Cục Dự trữ Liên bang thực hiện việc cắt giảm lãi suất, đẩy một lượng lớn tiền vào lưu thông; Uỷ ban Chứng khoán SEC tạo điều kiện cho các công ty mua lại cổ phiếu của họ nhưng vẫn không cải thiện được tình hình. TTCK New York đã phải trải qua 5 ngày nặng nề nhất trong lịch sử.

Theo kết quả một cuộc điều tra ở Mỹ, gần một nửa dân Mỹ tin rằng nền kinh tế Mỹ sẽ lâm vào khủng hoảng những năm tiếp theo. Đó là lý do khiến cho các chỉ số chứng khoán tại Mỹ sụt giảm nghiêm trọng.

Năm 2005: WALL STREET TRẢI QUA NGÀY TỒI TỆ NHẤT TRONG 2 NĂM

Ngày 15.04.2005, TTCK phố Wall đã có một ngày tồi tệ nhất vòng 2 năm khi các nhà đầu tư tỏ ra rất lo ngại về nền kinh tế Mỹ.

Chỉ số công nghiệp Dow Jones giảm 191,24 điểm, tương đương 1,86%, xuống còn 10.087,51 điểm. Trước đó, trong hai ngày 14 và 13/4, chỉ số Dow Jones giảm lần lượt 125 điểm và 104 điểm. Chỉ Số Nasdaq cũng giảm, trượt 38,56 điểm, tương đương 1,98%, xuống còn 1.908, 15 điểm. Chỉ số Standard & Poor’s 500 cũng để mất 19,43 điểm, tương đương 1,67%, xuống 1.142,62 điểm. Nếu tính trong 1 tuần, chỉ số Dow Jones giảm 3,57%, S&P 500 mất 3,27% và Nasdaq trượt dốc 4,56%.

Nếu tính trong 1 tuần, chỉ số Dow Jones giảm 3,57%, S&P 500 mất 3,27% và Nasdaq trượt dốc 4,56%.

Theo các nhà phân tích ở Wall Strret thì chính báo cáo tăng trưởng công nghiệp đầy thất vọng đã dẫn tới tình trạng ảm đạm này. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ cho biết, sản lượng công nghiệp chung của toàn quốc gia đã tăng 0,3% trong tháng 03.2005, cao hơn so với mức 0,2% trong tháng 02.2005. Tuy nhiên, số tăng này chỉ tập trung ở lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng còn ngành chế tạo và các lĩnh vực công nghiệp khác đều sụt giảm lần đầu tiên trong vòng 6 tháng. Các nhà đầu tư lo ngại rằng, chi phí nguyên liệu và năng lượng tăng đang ảnh hưởng mạnh đến phát triển sản xuất.

Giữa bối cảnh này, Tập đoàn IBM tuyên bố thu về các khoản lợi trong quý I thấp hơn so với mong đợi. Sau thông tin này, cổ phiếu IBM tụt dốc 6,94 USD xuống còn 76,60 USD. Điều đó càng làm tăng tâm lý lo ngại về khả năng nhu cầu chi tiêu cho công nghệ trên thực tế sẽ giảm sút so với dự đoán.

Trong số những tập đoàn vẫn “thắng lợi” có Citigroup Inc., giá trị cổ phiếu của tập đoàn này tăng 35 cent lên 45,75 USD sau khi “hạ gục” dự đoán của giới phân tích về lợi nhuận trong quý I năm 2005. Cùng lạc quan như Citigroup Inc. là General Electric Co. với giá trị cổ phiếu vọt 25 cent lên 35,75 USD năm 2005 tăng 25%. Trên thị trường NYSE, số cổ phiếu mất giá nhiều hơn số cổ phiếu tăng giá với tỷ lệ 4/1 và khối lượng giao dịch đạt 2,18 tỷ cổ phiếu.

General Electric Co. và Citigroup Inc. là những công ty có dấu hiệu lạc quan trên trên thị trường

Năm 2006: GIÁ CỔ PHIẾU Ở WALL STREET SỤT GIẢM

Đầu năm 2006, TTCK New York – NYSE có những bước khởi đầu tốt đẹp. Thế nhưng ngày 21.01.2006, Chỉ số Dow Jones giảm mạnh sau thông báo về kết quả kinh doanh đáng thất vọng của General Electric và Citigroup. Chỉ số Standard & Poors 500 và Nasdaq cũng giảm mạnh do hiện tượng bán cổ phiếu hàng loạt. Giá dầu thô tăng trên thị trường New York cũng làm tăng lực lên thị trường chứng khoán.

Đầu tháng 01.2006, chỉ số Dow Jones đạt trên 11.000 điểm lần đầu tiên kể từ vụ tấn công 11 tháng 9 năm 2001. Thực ra, giá cổ phiếu dao động chủ yếu do TTCK Tokyo đóng cửa sớm trước những cáo buộc gian lận quanh Công ty internet Livedoor. Mặc cho kết quả lợi nhuận khá ấn tượng của Công ty sản xuất điện thoại Motorola, các nhà kinh doanh vẫn ồ ạt bán cổ phiếu ra sau khi kết quả kinh doanh của Citigroup và General Electric được công bố.

TTCK Nhật Bản từng phải đóng cửa sớm do sự cố gian lận chứng khoán của Liverdoor internet

Thêm vào đó, thị trường cũng khá bất ổn định do giá dầu lên tới mức tới mức 68 USD một thùng sau khi có tin cho rằng Al – Qaeda đưa ra những đe doạ mới đối với Mỹ, cùng những chuyện xoay quanh ý định hạt nhân của Iran và tình trạng định dầu tại Nigeria.

CỔ PHIẾU GOOGLE SỤT GIÁ TẠI WALL STREET

Cổ phiếu Công ty internet Google, cổ phiếu Google vốn tăng mạnh trong năm 2005 đã giảm 9% hôm 01.02.2006 sau khi lợi nhuận của công ty này lần đầu tiên đạt thấp hơn dự đoán của Wall Street.

Trước đó, Công ty công bố rằng lợi nhuận quý 4 năm 2005 tăng 82%, đạt 372,2 triệu đô la, hay là 1,22 đô la một cổ phiếu. Trong khi đó các nhà phân tích dự báo rằng mức lợi nhuận sẽ đạt 1,50 USD một cổ phiếu. Giá cổ phiếu của Google vì vậy đã giảm tại New York trước những lo ngại rằng công ty khổng lồ này hiện đang được định giá cao hơn thực tế.

Kể từ khi Google niêm yết trên thị trường Nasdaq vào tháng 8 năm 2004, cổ phiếu công ty này đã tăng liên tục và đã tăng giá trị gấp 4 lần. Một số nhà phân tích đã bắt đầu đặt câu hỏi rằng liệu họ có đánh gía quá cao sức mạnh của nhu cầu và mức độ tăng lợi nhuận trong ngành công nghệ.

Charles Lieberman Management nói: “Google là một công ty đang hoạt động cực kỳ tốt. Nhưng nó chỉ không thể đạt tới mức trông đợi rất cao của thị trường.” Đối với Google, sự sụt giá trong một ngày có thể chẳng là gì. Nhưng nó đã nhắc nhở Wall Street rằng ngay cả một trong những công ty được yêu thích nhất của thị trường cũng có thể trải qua cú sốc về lợi tức.

Wall Street và những ngày đen tối chấn động thế giới

1 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây